Trichoderma là một loại vi nấm được phân lập từ đất, thường hiện diện xung quanh vùng hệ thống của rễ cây. Đây là loại nấm hoại sinh có khả năng ký sinh và đối kháng với nhiều loài nấm bệnh trên cây trồng. Do đó nhiều chủng Trichoderma spp. đã được nghiên cứu như một tác nhân phòng trừ sinh học và được ứng dụng để tạo thành thuốc trừ bệnh sinh học, phân sinh học và chất cải tạo đất (Harman et al., 2004).
Trong cơ chế phòng bệnh của nấm Trichoderma thì cơ chế tiết ra các enzyme có khả năng phân hủy nhiều chất trong thành tế bào mần bệnh đang được nghiên cứu và làm mục tiêu sản xuất các enzyme có giá trị kinh tế (Harman, 2006; Đĩnh và ctv., 2007).
Kết quả khảo sát cho thấy chủng Tricho 1 (1.2) và Tricho 3 (3.1) có hiệu quả phân giải tinh bột cao với đường kính vòng phân giải đều là 5,167 cm, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các chủng khác (P < 0,05), vòng phân giải D ≥ 2,5 cm nên hoạt tính enzyme rất mạnh. Đối với chủng Tricho 2 (2.2), Tricho 5 (4.2) và Tricho 6 (5.2) có đường kính vòng phân giải lần lượt là 4,533 cm, 4,467 cm và 4,667 cm, khác biệt có ý nghĩa thống kê với các chủng khác, có D ≥ 2,5 cm nên có hoạt tính enzyme rất mạnh. Đối với chủng Tricho 4 (3.2) có đường kính vòng phân giải là 3,033 cm và chủng Tricho 7 (6.1) có đường kính vòng phân giải là 2,800 cm, khác biệt không có ý nghĩa thống kê với nhau, có D ≥ 2,5 cm nên có hoạt tính enzyme rất mạnh. Giữa 2 chủng Tricho 7 (6.1) và Tricho 9 (8.2) khác biệt không có ý nghĩa thống kê, đường kính vòng phân giải của chủng Tricho 9 (8.2) là 2,467 cm, có hoạt tính enzyme mạnh (D ≥ 2,0 cm). Còn chủng Tricho 8 (7.3) có đường kính vòng phân giải là 1,433 cm, có hoạt tính enzyme trung bình (Hình 1).
Theo nghiên cứu của De Azevedo et al (2000), T. harzianum có khả năng đối kháng với nấm bệnh C. perniciosa do tác động của enzyme amylase lên việc giúp T. harzianum phát triển trong điều kiện ngoài đồng. Enzyme amylase làm trung gian cho quá trình thủy phân tinh bột hoặc K-glucan. Kết quả khảo sát hoạt tính enzyme amylase cho thấy phần lớn các chủng Tricho 1, Tricho 2, Tricho3, Tricho 4, Tricho 5, Tricho 6, Tricho 7 và Tricho 9 đều có hoạt tính enzyme rất mạnh, đường kính vòng phân giải dao động từ 2,8 cm đến 5,167 cm. Riêng chủng Tricho 8 có hoạt tính trung bình (đường kính vòng phân giải là 1,433 cm)
Bảng 1: Đường kính vòng phân giải tinh bột của các chủng Trichoderma
| STT | Tên chủng Trichoderma | Đường kính vòng halo (cm) | |
| 1 | Tricho 1 (1.2) | 5,167 a | |
| 2 | Tricho 2 (2.2) | 4,533 b | |
| 3 | Tricho 3 (3.1) | 5,167 a | |
| 4 | Tricho 4 (3.2) | 3,033 c | |
| 5 | Tricho 5 (4.2) | 4,467 b | |
| 6 | Tricho 6 (5.2) | 4,667 b | |
| 7 | Tricho 7 (6.1) | 2,800 cd | |
| 8 | Tricho 8 (7.3) | 1,433 e | |
| 9 | Tricho 9 (8.2) | 2,467 d | |
Ghi chú: Giá trị đường kính vòng kháng khuẩn là giá trị trung bình của ba lần lặp lại. Trong cùng một cột hoặc một hàng, các giá trị theo sau bởi một hoặc những chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa ở mức 5% bằng phép kiểm định Tukey

Từ chín mẫu nấm Trichoderma tiến hành khảo sát các hoạt tính enzyme cho thấy phần lớn các chủng nấm đều có hoạt tính enzyme mạnh. Trong đó, bốn chủng Tricho 2, Tricho 3, Tricho 5 và Tricho 6 cho kết quả hoạt tính cao hơn các chủng còn lại trong quá trình khảo sát.
Ngày đăng: 07-02-2026
Tác giả: Bùi Nhi Bình