Khả năng kháng oxy hóa của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi được đánh giá dựa trên khả năng kiểm soát các gốc tự do chứa oxy hoạt động (ABTS•+), chứa nitơ hoạt động (DPPH) và các ion kim loại chuyển tiếp (FRAP). Kết quả đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi được trình bày trong Bảng 1.
Bảng 1. Khả năng kháng oxy hóa của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi bằng các phương pháp khác nhau
| Phương pháp | IC50 (µg/mL) | |||
| NT1 | NT2 | NT3 | Vitamin C | |
| DPPH | 244,70±2,07 | 246,41±2,60 | 243,06±3,01 | 16,85±0,07 |
| ABTS | 330,43±2,29 | 332,41±3,12 | 328,46±3,41 | 40,34±1,22 |
| FRAP | 228,75±3,65 | 227,12±2,58 | 230,17±2,79 | 23,09±0,05 |
Ghi chú: NT1, NT2, NT3: các nghiệm thức tương ứng lần lượt là mẫu đối chứng, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới ion, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới từ trường điện phân
Hoạt tính kháng oxy hóa của thực vật chủ yếu được đóng góp bởi các hợp chất có hoạt tính sinh học chứa trong chúng. Kết quả trình bày ở Bảng 5 cho thấy dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi có khả năng kháng oxy hóa với giá trị IC50 lớn hơn 227 µg/mL. Giá trị IC50 càng thấp, mẫu sẽ có hoạt tính kháng oxy hóa cao và ngược lại. Giá trị IC50 của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi cao hơn đáng kể so với đối chứng dương Vitamin C. Vitamin C cần từ 16,85 – 40,34 μg/mL để thể hiện khả năng trung hòa 50% gốc tự do tùy theo phương pháp, trong khi đó dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi từ 228 – 332 μg/mL (giá trị IC50). So với vitamin C, dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi có hoạt tính kháng oxy hóa thấp hơn đáng kể.
Hoạt tính kháng viêm của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi được khảo sát dựa trên hoạt động ức chế sự biến tính protein albumin huyết thanh bò (BSA). Kết quả khả năng ức chế sự biến tính protein của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi được trình bày trong Bảng 2.
Bảng 2. Hiệu suất ức chế sự biến tính protein của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi
| Nồng độ dịch trích ly (μg/mL) | Hiệu suất ức chế sự biến tính BSA (%) | |||
| NT1 | NT2 | NT3 | Diclofenac | |
| 0 | - | - | - | - |
| 50 | - | - | - | 12,26±2,48 |
| 100 | 25,63±1,05 | 24,33±1,47 | 25,08±1,42 | 24,97±1,73 |
| 200 | 31,03±2,48 | 31,91±2,70 | 32,90±2,60 | 47,78±1,44 |
| 400 | 47,34±1,35 | 48,09±2,39 | 46,79±2,39 | 89,39±1,24 |
| 800 | 73,48±0,68 | 73,92±2,07 | 74,30±1,99 | - |
| IC50 (μg/mL) | 484,55 | 478,60 | 480,65 | 213,61 |
Ghi chú: NT1, NT2, NT3: các nghiệm thức tương ứng lần lượt là mẫu đối chứng, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới ion, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới từ trường điện phân
Khả năng ức chế sự biến tính protein của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi tỷ lệ thuận với nồng độ, tăng từ 25,63±1,05% ở nồng độ 100 μg/mL lên 73,48±0,68% ở nồng độ 800 μg/mL (NT1). Tương tự, tỷ lệ này đều tăng ở NT2 (24,33±1,47% ở nồng độ 100 μg/mL, 73,92±2,07% ở nồng độ 800 μg/mL) và NT3 (25,08±1,42% ở nồng độ 100 μg/mL, 74,30±1,99% ở nồng độ 800 μg/mL). Khả năng kháng viêm của dịch trích ly được so sánh với chất chuẩn diclofenac dựa vào nồng độ dịch trích ly hoặc chất chuẩn ức chế được 50% sự biến tính protein. Giá trị IC50 càng thấp, khả năng ức chế sự biến tính protein càng cao hay hoạt tính kháng viêm của mẫu thử càng mạnh. Đối với protein huyết thanh bò, giá trị IC50 của dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi và diclofenac lần lượt là 484,55 μg/mL (NT1), 478,60 μg/mL (NT2), 480,65 μg/mL (NT3) và 213,61 μg/mL (chất chuẩn diclofenac). Từ kết quả phân tích cho thấy, dịch trích ly quả thể nấm Linh Chi có khả năng ức chế sự biến tính albumin huyết thanh bò thấp hơn diclofenac khoảng 2,2 lần.
Ngày đăng: 05-12-2025
Tác giả: Bùi Nhi Bình