Nước tưới ion có những đặc điểm vật lý và hóa học độc đáo góp phần cải tiến chất lượng nước tưới và tiết kiệm nước; hỗ trợ quá trình hấp thụ nước và chất dinh dưỡng của cây trồng giúp cây lớn nhanh, tăng năng suất cây trồng và chất lượng; cải tạo đất, cân bằng hệ sinh thái trong đất; là một trong những lợi ích trong nông nghiệp. Nước từ trường điện phân là nước đã được xử lý qua quá trình điện phân, tạo ra các dung dịch có đặc tính như nước điện giải có tính kiềm hoặc axit, giúp cải thiện hiệu quả sử dụng nước và phân bón. Nước này có thể được sử dụng để rửa trôi các ion độc hại khỏi rễ cây, tăng cường khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng và điều hòa độ pH của đất, góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Sự thay đổi đường kính quả thể nấm linh chi của tất cả nghiệm thức qua vụ 1 được thể hiện ở Bảng 1.
Bảng 1. Đường kính quả thể nấm linh chi thay đổi theo thời gian sinh trưởng ở vụ 1
| Nghiệm thức | Đường kính quả thể nấm linh chi (cm) | |||||
| Tuần 1 | Tuần 2 | Tuần 3 | Tuần 4 | Tuần 5 | Tuần 6 | |
| NT1 | 3,53 ab | 5,53 c | 9,13 b | 9,23 c | 9,30 c | 9,33 c |
| NT2 | 3,90 a | 8,13 a | 10,77 a | 12,33 a | 12,43 a | 12,53 a |
| NT3 | 3,93 a | 6,70 b | 9,10 b | 11,07 b | 11,33 b | 11,50 b |
Ghi chú: *Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); NT1, NT2, NT3: các nghiệm thức tương ứng lần lượt là mẫu đối chứng, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới ion, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới từ trường điện phân
Sau thời gian 6 tuần theo dõi, kết quả cho thấy đường kính quả thể nấm linh chi của nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới ion và từ trường điện phân khác biệt có ý nghĩa thống kê. Sự khác biệt được biểu hiện bắt đầu từ tuần thứ 2 trở đi và biểu hiện cách biệt rõ rệt về đường kính ở tuần thứ 4 trở đi. Ở tuần thứ 2 và thứ 4, đường kính quả thể nấm ở nghiệm thức đối chứng có giá trị trung bình lần lượt là 5,53 cm và 9,23 cm. Tương tự, đường kính quả thể nấm ở nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion để cấp ẩm là 8,13 cm và 12,33 cm, trong khi đó giá trị này lần lượt là 6,72 cm và 11,07 cm của nghiệm thức áp dụng hệ thống nước từ trường điện phân. Bắt đầu từ tuần thứ 6 trở đi đường kính quả thể nấm không có sự thay đổi rõ rệt ở cả 3 nghiệm thức. Trong vụ 1, đường kính quả thể nấm tối đa đạt được sau 6 tuần ở 3 nghiệm thức lần lượt là 9,33 cm đối với nghiệm thức đối chứng, 12,53 cm đối với nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion và 11,5 cm ở nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới từ trường điện phân.
Đối với giá trị khối lượng quả thể nấm khi thu hoạch trong vụ 1 ở tuần thứ 7 cho giá trị trung khác nhau về mặt thống kê giữa nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới ion và từ trường điện phân (Hình 3). Giá trị khối lượng trung bình trong nghiệm thức đối chứng là 22,01 g và trong nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion và từ trường điện phân lần lượt là 24,86 g và 23,48 g.
Tương tự kết quả vụ 1, sau thời gian 6 tuần theo dõi cho kết quả đường kính quả thể nấm của nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới ion và từ trường điện phân khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 2).
Bảng 2. Đường kính quả thể nấm linh chi thay đổi theo thời gian sinh trưởng ở vụ 2
| Nghiệm thức | Đường kính quả thể nấm linh chi (cm) | |||||
| Tuần 1 | Tuần 2 | Tuần 3 | Tuần 4 | Tuần 5 | Tuần 6 | |
| NT1 | 3,60 ab | 5,42 c | 9,32 b | 9,05 c | 9,18 c | 9,36 c |
| NT2 | 3,64 ab | 8,05 a | 10,87 a | 12,21 a | 12,31 a | 12,56 a |
| NT3 | 3,87 a | 6,80 b | 9,42 b | 11,23 b | 12,09 ab | 12,17 ab |
Ghi chú: *Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); NT1, NT2, NT3: các nghiệm thức tương ứng lần lượt là mẫu đối chứng, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới ion, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới từ trường điện phân
Sự khác biệt được biểu hiện bắt đầu từ tuần thứ 2 trở đi và biểu hiện cách biệt rõ rệt về đường kính ở tuần thứ 4 trở đi. Đường kính quả thể nấm ở nghiệm thức đối chứng ở giai đoạn tuần thứ 2 và thứ 4 có giá trị trung bình lần lượt là 5,42 cm và 9,05 cm. Tương tự, đường kính quả thể nấm ở nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion để cấp ẩm là 8,05 cm và 12,21 cm, trong khi đó giá trị này lần lượt là 6,8 cm và 11,23 cm của nghiệm thức áp dụng hệ thống nước từ trường điện phân. Bắt đầu từ tuần thứ 6 trở đi đường kính quả thể nấm không có sự thay đổi rõ rệt ở cả 3 nghiệm thức. Trong vụ 2, đường kính quả thể nấm cây tối đa đạt được sau 6 tuần ở 3 nghiệm thức lần lượt là 9,36 cm đối với nghiệm thức đối chứng, 12,56 cm đối với nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion và 12,17 cm ở nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới từ trường điện phân.
Đối với giá trị khối lượng quả thể nấm khi thu hoạch trong vụ 2 ở tuần thứ 7 cho giá trị trung bình khác nhau về mặt thống kê giữa nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới ion và từ trường điện phân (Hình 4). Giá trị khối lượng trung bình trong nghiệm thức đối chứng là 22,17 g và trong nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion và từ trường điện phân lần lượt là 25,36 g và 23,95 g.
Tương tự 2 vụ trước, sau thời gian 6 tuần theo dõi cho kết quả đường kính quả thể nấm của nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới ion và từ trường điện phân khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 3).
Bảng 3. Đường kính quả thể nấm linh chi thay đổi theo thời gian sinh trưởng ở vụ 3
| Nghiệm thức | Đường kính quả thể nấm linh chi (cm) | |||||
| Tuần 1 | Tuần 2 | Tuần 3 | Tuần 4 | Tuần 5 | Tuần 6 | |
| NT1 | 3,53 ab | 5,31 c | 9,13 bc | 9,23 c | 9,50 c | 9,58 c |
| NT2 | 3,94 a | 8,21 a | 10,87 a | 11,88 a | 12,48 a | 12,59 a |
| NT3 | 3,99 a | 6,60 b | 9,24 b | 10,90 b | 11,32 b | 11,53 b |
Ghi chú: *Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); NT1, NT2, NT3: các nghiệm thức tương ứng lần lượt là mẫu đối chứng, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới ion, mẫu sử dụng hệ thống nước tưới từ trường điện phân
Sự khác biệt được biểu hiện bắt đầu từ tuần thứ 2 trở đi và biểu hiện cách biệt rõ rệt về đường kính quả thể nấm ở tuần thứ 4 trở đi. Đường kính quả thể nấm ở nghiệm thức đối chứng ở tuần thứ 2 và thứ 4 có giá trị trung bình lần lượt là 5,31 cm và 9,23 cm. Tương tự, đường kính quả thể nấm ở nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion để cấp ẩm là 8,21 cm và 11,88 cm, trong khi đó giá trị này lần lượt là 6,6 cm và 10,9 cm của nghiệm thức áp dụng hệ thống nước từ trường điện phân. Bắt đầu từ tuần thứ 6 trở đi đường kính quả thể nấm không có sự thay đổi rõ rệt ở cả 3 nghiệm thức. Trong vụ 3, đường kính quả thể nấm tối đa đạt được sau 6 tuần ở 3 nghiệm thức lần lượt là 9,58 cm đối với nghiệm thức đối chứng, 12,59 cm đối với nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion và 11,53 cm ở nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới từ trường điện phân.
Đối với giá trị khối lượng quả thể nấm khi thu hoạch trong vụ 3 ở tuần thứ 7 cho giá trị trung bình khác nhau về mặt thống kê giữa nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức áp dụng hệ thống tưới ion và từ trường điện phân (Hình 5). Giá trị khối lượng trung bình trong nghiệm thức đối chứng là 21,95 g và trong nghiệm thức áp dụng hệ thống nước ion và từ trường điện phân lần lượt là 24,6 g và 23,24 g.
Ngày đăng: 26-12-2025